TIN TỨC Y TẾ

XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH CẢNH – NÊN KHÁM TẦM SOÁT
[ Cập nhật vào ngày (14/02/2020) ]

Xơ vữa động mạch có liên quan mật thiết với bệnh tim mạch và các biến chứng, như bệnh động mạch vành và đột quỵ. Xơ vữa động mạch là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới, là một bệnh hệ thống gây tổn thương các động mạch ở nhiều cơ quan khác nhau. Mảng xơ vữa thường có ba biểu hiện chính liên quan động mạch vành, động mạch não và động mạch ngoại biên.


1. Khái niệm xơ vữa động mạch

        

  Theo Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “ Vữa xơ động mạch là sự phối hợp các hiện tượng thay đổi cấu trúc nội mạc của các động mạch lớn và vừa, bao gồm sự tích tụ cục bộ các chất lipid, các phức bộ glucid, máu và các sản phẩm của máu, mô xơ và cặn lắng acid, các hiện tượng này kèm theo sự thay đổi ở lớp trung mạc”. Nói chung vữa xơ động mạch là hiện tượng xơ hóa thành động mạch bao gồm các động mạch trung bình và động mạch lớn. Biểu hiện chủ yếu là sự lắng đọng mỡ và các màng tế bào tại lớp bao trong thành động mạch gọi là mảng vữa.

2. Quá trình hình thành và phát triển mảng xơ vữa

          Tỉ lệ bị xơ vữa động mạch liên quan trực tiếp đến tuổi. Một số nghiên cứu cho thấy quá trình xơ vữa động mạch có thể xảy ra từ rất sớm trong những năm đầu tiên của đời người, thậm chí có tác giả còn thấy hiện tượng xơ vữa động mạch xuất hiện ở ngay trong thời kỳ bào thai. Các tổn thương trung gian được hình thành vào những năm 30 của đời người và từ 40 tuổi đã hình thành các mảng xơ vữa thực sự và có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như nhồi máu cơ tim. Từ 50 tuổi trở đi, quá trình xơ vữa động mạch tiếp tục tiến triển trở nên trầm trọng hơn và gây ra các biến chứng như bệnh mạch máu ngoại biên, bệnh mạch máu não... Có tới 17% người dưới 20 tuổi bị xơ vữa động mạch, tỉ lệ này là 37% ở người có độ tuổi từ 20 - 29, 60% ở người có độ tuổi từ 30 - 39, 71% ở người có độ tuổi từ 40 - 49 và 85% ở người có độ tuổi từ 50 trở lên.

          Mảng vữa xơ động mạch được tạo thành do sự dày lên của các thành động mạch bao gồm mạng lưới mô sợi bao bọc chung quanh bởi lớp mỡ phát xuất từ khoảng dưới nội mạc của bao trong. Mảng xơ vữa động mạch gặp chủ yếu ở các thân động mạch lớn (ĐMC bụng, Đm vành, chậu đùi, cảnh và chủ xuống) đặc biệt hay ở những vùng xoáy máu như những chỗ uốn cong hay chẻ đôi.

          Mảng xơ vữa động mạch xuất hiện sau nhiều năm với những cơ chế mà ngày nay dần dần đã được biết rõ hơn:

          + Giai đoạn đầu do rối loạn huyết động tại chỗ (hiện tượng xoáy máu) làm biến đổi cấu trúc bình thường của lớp trong. Tổn thương xuất hiện sớm nhất là tình trạng phù nề không có mỡ, về sau mới xuất hiện các tế bào ăn mỡ dưới dạng các tế bào có hạt, tụ lại thành đám dưới tế bào nội mô. Giai đoạn này thành mạch bị rối loạn tạo điều kiện cho lắng đọng lipid. Tiếp theo là sự hình thành những vệt mỡ trên bề mặt nội mạc.

          + Giai đoạn hai, mảng vữa đơn thuần xuất hiện. Mảng vữa dày giữa có vùng hoại tử nằm trong một vỏ xơ. Vùng hoại tử chứa rất nhiều acid béo và cholesterol. Mảng vữa xơ tiến triển rất nhanh làm cho động mạch hẹp dần.

          + Giai đoạn sau cùng là sự biến đổi thành mảng vữa gây biến chứng làm tắc nghẽn khẩu kính động mạch và tai biến thiếu máu cục bộ. Hiện tượng chủ yếu của quá trình phát triển này là sự loét của lớp áo trong, nghĩa là lớp tế bào nội mạc bị xé rách, máu sẽ chảy vào qua chổ loét tạo nên cục máu tụ. Sự rách của nội mạc gây nên sự dính của tiều cầu, xuất phát của nghẽn mạch, và tạo thành cục tắc, cục tắc sẽ bao phủ chổ loét. Đây là khởi đầu của các biến chứng về sau. Các mảng vữa xơ phát triển ngày càng nhiều, các mảng canxi gắn liền nhau, tổ chức xơ phát triển nhiều hơn gây bít tắc động mạch.

3. Tầm soát xơ vữa động mạch cảnh như thế nào?

          Bệnh lý mạch máu có thể được chẩn đoán ở những giai đoạn sớm trước khi nó gây triệu chứng hoặc làm tắc nghẽn mạch máu, siêu âm động mạch cảnh. Ngoài kiểm tra tắc nghẽn hoặc kiểm tra mảng xơ vữa, thì việc đo độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh (độ dày CIMT) đã chứng minh là có liên quan đến đánh giá nguy cơ tương lai cho một đột quỵ hay cơn đau tim. Kết quả CIMT cho phép chúng ta đánh giá tuổi già của động mạch.

          Siêu âm động mạch cảnh nhằm kiểm tra các mảng xơ vữa tích tụ trong động mạch. Mảng xơ vữa có thể gây thu hẹp hoặc làm tắc nghẽn dòng máu lưu thông trong động mạch cảnh và làm ngăn chặn lượng máu giàu oxy đi đến não. Siêu âm động mạch cảnh có thể cho thấy sự tích tụ của mảng xơ vữa đã làm thu hẹp lòng của một hoặc cả hai động mạch cảnh và làm giảm lưu lượng máu đến não. Nếu mảng xơ vữa đã gây hẹp lòng động mạch cảnh thì bạn có thể có nguy cơ bị đột quỵ. Nguy cơ đó phụ thuộc vào phần trăm động mạch cảnh bị tắc nghẽn là bao nhiêu và lượng máu bị ngăn chặn không thể đưa lên não là bao nhiêu. Để giảm nguy cơ đột quỵ, bác sĩ có thể đề nghị các phương pháp điều trị bằng thuốc hoặc điều trị bằng phẫu thuật để giảm hoặc loại bỏ mảng xơ vữa đã tích tụ trong động mạch cảnh của bạn.

Siêu âm động mạch cảnh.

          Siêu âm động mạch cảnh đo độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh có thể thực hiện trong độ tuổi từ 25 đến 80 nhưng thông thường nên xem xét đối với nam trên 45 và nử trên 55 kèm với một trong những yếu tố nguy cơ sau:

  • Tăng lipid máu.
  • Tăng huyết áp.
  • Đái tháo đường.
  • Hút thuốc.
  • Béo phì, ít hoạt động.
  •  
  • Các thuốc ngừa thai.
  • Hội chứng ngưng thở khi ngủ.
  • Các loại bệnh hay rối loạn viêm mãn tính (như là thấp khớp, lupus, vẩy nến, HIV, viêm đại tràng mãn).
  • Có bất thường CIMT trước đó và đo lại CIMT để theo dõi hiệu quả điều trị.
  • Gia đình có tiền sử cơn đau tim và hoặc đột quỵ.

4. Lợi ích của siêu âm động cảnh

          Siêu âm động mạch cảnh cho phép khảo sát động mạch cảnh của bạn cả về mặt hình thái như là các bệnh lý xơ vữa thành mạch, hẹp động mạch, dị dạng mạch máu… và kiểm tra về mặt huyết động học dòng chảy… Siêu âm giúp đánh giá mức độ gây hẹp động mạch cảnh và theo dõi diễn tiến theo thời gian.

          Ngoài ra đo độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh là không thể thiếu để giúp đánh giá ước lượng bệnh lý xơ vữa động mạch đặc biệt là động mạch vành.

5. Kỹ thuật thực hiện siêu âm doppler động mạch cảnh

          Siêu âm động mạch cảnh thường được thực hiện trong bệnh viện hay phòng khám bởi một bác sĩ siêu âm hoặc chuyên khoa mạch máu. Xét nghiệm này không đau và thời gian thực hiện thường kéo dài khoảng 10 - 15 phút.

          Đây là kỹ thuật an toàn, không đau, không xâm lấn và chỉ tốn không quá 10 phút, không tiếp xúc với tia xạ, không cần chuẩn bị trước và bệnh nhân trở lại sinh hoạt bình thường sau khi làm xét nghiệm. Kỹ thuật được dùng là sóng siêu âm hoàn toàn vô hại.

          Bệnh nhân sẽ nằm ngửa trên một chiếc bàn để kiểm tra. Bác sĩ sẽ đặt một ít gel lên cổ vùng có động mạch cảnh đi qua. Gel này sẽ giúp sóng siêu âm đi đến các động mạch tốt hơn. Bác sĩ sẽ đặt đầu dò vào các điểm khác nhau trên cổ và di chuyển nó qua lại để khảo sát động mạch cảnh. Màn hình video hiển thị những hình ảnh trực tiếp khi thao tác đầu dò để bác sĩ xem xét.

6. Dự phòng là biện pháp tốt nhất trong điều trị

          Tầm soát sớm để can thiệp sớm.

          Không bao giờ quá trễ để can thiệp vào yếu tố nguy cơ để làm giảm đi hậu quả cơn đau tim hay đột quỵ. Điều đó có thể bao gồm thay đổi lối sống, dùng thuốc, các phương pháp điều trị đặc biệt hoặc làm thêm thử nghiệm để cuối cùng mục đích là:

  • Giảm yếu tố nguy cơ xảy cơn đau tim và đột quỵ.
  • Duy trì một trái tim khỏe mạnh.
  • Làm giảm độ cứng thành mạch và làm giảm nguy cơ cơn đau tim thứ phát, đột quỵ hay các biến cố tim khác.

          Điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt giúp phòng ngừa tình trạng xơ vữa động mạch cảnh:

  • Cần vận động cơ thể như tập thể dục vừa sức của mình, vận động hợp lý theo mỗi cá thể…. Tránh lối sống thụ động.
  • Bỏ thuốc lá.
  • Ăn nhiều trái cây và rau xanh, hoa quả…
  • Hạn chế rượu.
  • Hạn chế thức ăn có chứa nhiều chất béo, mõ động vật.

          Khám sức khỏe định kỳ thường xuyên.

          Khám và tư vấn bác sĩ chuyên khoa khi điều trị khi có chỉ định.

  • Điều trị nội khoa (dùng thuốc) theo bác sĩ chuyên khoa..
  • Điều trị ngoại khoa (phẫu thuật) khi có chỉ định.



BSCKI. Dương Hiền Thảo Lan - Phó trưởng khoa Khám bệnh

  In bài viết



tin nổi bật


Đơn vị trực thuộc

Tìm kiếm tin tức